Thứ Tư, 18 tháng 7, 2018

Thoát vị đĩa đệm nguyên nhân do đâu?

Thoát vị đĩa đệm cột sống lưng và thắt lưng là một trong những bệnh lý xảy ra rất phổ biến hiện nay. Bệnh khó chữa trị và thường gây nhiều biến chứng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người bệnh nếu không có biện pháp điều trị kịp thời. 

Chữa thoát vị đĩa đệm cột sống lưng và thắt lưng được thực hiện bằng phương pháp Chiropractic tiên tiến của Mỹ với tỷ lệ thành công hơn 95%.

Thông thường, thoát vị đĩa đệm cột sống lưng và thắt lưng xảy ra phổ biến ở những người lao động nặng nhọc hoặc nhân viên văn phòng ngồi lâu trong thời gian dài, thường do nhiều nguyên nhân khác nhau


Nguyên nhân gây ra như sau:


Sai tư thế trong công việc và sinh hoạt: Việc khuân vác, bưng bê các vật quá nặng không đúng cách, ngồi xuống đứng lên đột ngột, ngồi làm việc sai tư thế, tập thể dục hoặc thực hiện các hoạt động thể thao sai cách,… hoàn toàn có thể khiến đốt sống lưng và thắt lưng bị chấn thương.

Chấn thương, tai nạn vùng thắt lưng: Té ngã, va đập vào cột sống lưng hoặc thắt lưng, ngã đập mông xuống vật cứng trong quá trình làm việc hoặc lao động, tai nạn giao thông, khuân vác vật cách xa người khiến khớp sống lưng bị trật, viêm khớp,… cũng là một trong những nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm cột sống lưng và thắt lưng.

Thoát vị đĩa đệm cột sống lưng và thắt lưng phát sinh bởi nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra.
Tuổi tác và các bệnh lý bẩm sinh: Với những người trên 30 tuổi, tỉ lệ mắc bệnh sẽ cao hơn do đĩa đệm dần mất sự linh hoạt trong quá trình vận động, nhân nhầy có thể bị khô, vùng sụn xơ hóa,… Một số bệnh nhân đang mắc các bệnh lý cột sống bẩm sinh như gai đôi cột sống, gù vẹo,… cũng dễ bị thoát vị đĩa đệm cột sống lưng.

Di truyền từ người thân trong gia đình: Nếu cha mẹ hoặc người thân có cột sống hay đĩa đệm bị yếu do bất thường về cấu trúc, các thế hệ sau này nguy cơ mắc bệnh thoát vị đĩa đệm cột sống sẽ cao hơn người bình thường.



Trong đó, thoái hóa đĩa đệm cột sống thắt lưng là nguyên nhân gây bệnh phổ biến và phức tạp nhất, bởi thắt lưng phải chịu áp lực lớn từ cơ thể và nhiều hoạt động trong sinh hoạt. Triệu chứng này xảy ra do phần đĩa đệm bị thoái hóa khiến nhân nhầy mất nước, bao xơ dần xơ cứng và dễ bị rách, dẫn đến tình trạng thoát vị đĩa đệm, chèn ép hệ thống rễ thần kinh và dây thần kinh tọa, phát sinh các cơn đau nhức kéo dài từ lưng, thắt lưng cho đến tận gót chân.

Ngoài ra, đĩa đệm cột sống thắt lưng bị thoái hóa còn là nguyên nhân gây ra nhiều biến chứng cột sống khác như:

Dễ làm cột sống bị xẹp lún, nứt, vỡ.

Đốt sống sẽ có nguy cơ mọc gai xương, gây ra tình trạng gai cột sống.

Lưng có dấu bị cong, vẹo bất thường, đi đứng khập khiễng và dễ té ngã.

Chiều cao của người bệnh bị ảnh hưởng đáng kể.

CÁC DẠNG THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM CỘT SỐNG Ở LƯNG THƯỜNG GẶP


Thoát vị đĩa đệm cột sống lưng và thắt lưng do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra, vì thế biểu hiện và dạng bệnh lý gặp phải của mỗi người có thể không giống nhau, phụ thuộc vào tác nhân gây bệnh và độ tuổi ở mỗi người, bao gồm các dạng sau:

Thoát vị đĩa đệm thành một khối: Đây là tình trạng vỏ bọc đĩa đệm bị rách khiến nhân nhầy tràn ra bên ngoài và xuyên qua dây chằng dọc sau, gây chèn ép rễ thần kinh đột ngột, làm liệt cơ và rối loạn cơ vòng.

Thoát vị đĩa đệm hai bên: Khi vòng sợi phía sau bị rách ở cả hai bên do chấn thương hoặc tác động làm nhân nhầy 2 bên lồi ra, khiến bệnh nhân có thể đau cùng lúc 2 phía hoặc đau cách nhau.

Thoát vị đĩa đệm đa tầng: Là trường hợp đĩa đệm bị thoát vị tại nhiều vị trí khác nhau trên cột sống, có thể nằm liền nhau hoặc cách nhau vài đốt sống. Tình trạng này rất khó điều trị, các biến chứng cũng nguy hiểm và phức tạp hơn.

Thoát vị đĩa đệm nhân nhầy bị kẹt: Nếu nhân nhầy tràn qua vòng sợi do vỏ bọc bị rách nhưng lại kẹt giữa mép thân đốt sống kề nhau, có thể gây ra các cơn đau đột ngột vùng lưng và kèm theo đau dây thần kinh hông to. Triệu chứng đôi khi chấm dứt ngay sau đó khi nhân nhầy hết kẹt.

Hy vọng những kinh nghiệm bác sĩ chia sẻ có thể giúp ích cho bạn đọc. Chúc bạn có một sức khỏe dồi dào.

Thứ Năm, 12 tháng 7, 2018

Đau thần kinh ngoại biên chữa ra sao?

Bệnh thần kinh ngoại biên không phải là một bệnh duy nhất, mà là một triệu chứng với nhiều nguyên nhân tiềm năng. Vì lý do đó, có thể khó chẩn đoán. Để giúp chẩn đoán bệnh, bác sĩ có thể sẽ tìm hiểu lịch sử đầy đủ về y tế và thực hiện khám lâm sàng và thần kinh, có thể bao gồm việc kiểm tra phản xạ gân, sức mạnh của cơ bắp và nhịp điệu, khả năng cảm giác nhất định và điều phối.


Biến chứng


Giảm cảm giác. Các bộ phận của cơ thể có thể tê liệt, có thể ít có khả năng cảm nhận những thay đổi nhiệt độ hoặc chấn thương.

Nhiễm trùng. Hãy chắc chắn kiểm tra bàn chân thường xuyên, cũng như bất kỳ khu vực thiếu cảm giác khác, để có thể điều trị chấn thương nhẹ trước khi bị nhiễm bệnh. Điều này đặc biệt quan trọng đối với người bị tiểu đường, những người có xu hướng lành vết thương chậm hơn.

Kiểm tra và chẩn đoán


Thử nghiệm này đo các tín hiệu điện trong dây thần kinh ngoại biên, và chuyển tín hiệu đến cơ bắp. Một phần của thử nghiệm này, sẽ nghiên cứu dẫn truyền thần kinh, tốc độ dẫn truyền tín hiệu thần kinh như thế nào. Nghiên cứu dẫn truyền thần kinh có thể được sử dụng để chẩn đoán hội chứng ống cổ tay và các rối loạn thần kinh ngoại biên khác.

Sinh thiết dây thần kinh

Bác sĩ có thể khuyên sinh thiết thần kinh, thủ tục trong đó một phần nhỏ của dây thần kinh được lấy ra và kiểm tra bất thường. Nhưng ngay sinh thiết dây thần kinh có thể không luôn luôn tiết lộ những gì gây tổn hại dây thần kinh.

Phương pháp điều trị và thuốc


Mục tiêu của điều trị là để quản lý các vấn đề gây ra bệnh thần kinh. Nếu nguyên nhân cơ bản được khắc phục, thường bệnh thần kinh tự cải thiện. Mục tiêu khác của điều trị là làm giảm các triệu chứng đau đớn. Nhiều loại thuốc có thể được sử dụng để làm giảm cơn đau của bệnh thần kinh ngoại biên:

Thuốc giảm đau. Các triệu chứng có thể thuyên giảm bởi thuốc giảm đau. Đối với nhiều triệu chứng nặng, bác sĩ có thể khuyên nên uống thuốc giảm đau theo toa. Thuốc có chứa thuốc phiện, như codeine, có thể dẫn đến táo bón, phụ thuộc hoặc an thần, vì vậy các loại thuốc này thường được chỉ định chỉ khi phương pháp điều trị khác thất bại.



Thuốc chống động kinh. Thuốc như gabapentin (Neurontin), topiramate (Topamax), pregabalin (Lyrica), carbamazepine (Tegretol) và phenytoin (Dilantin) đã được phát triển để điều trị bệnh động kinh. Tuy nhiên, các bác sĩ thường cũng chỉ định chúng để giảm đau dây thần kinh. Các tác dụng phụ có thể bao gồm buồn ngủ và chóng mặt.

Miếng dán Lidocain. Có chứa thuốc gây tê tại chỗ lidocaine. Áp nó vào các khu vực đau nghiêm trọng nhất, và có thể sử dụng tới bốn bản một ngày để giảm đau. Điều trị này hầu như không có tác dụng phụ ngoại trừ đối với một số người, phát ban tại chỗ.

Thuốc chống trầm cảm. Thuốc chống trầm cảm ba vòng, chẳng hạn như amitripxyline và nortripxyline (Pamelor), đã được phát triển để điều trị trầm cảm. Tuy nhiên, thấy giúp giảm đau bằng cách can thiệp vào các quá trình hóa học trong não và tủy sống. Các serotonin và chất ức chế tái hấp thu duloxetine norepinephrine (Cymbalta) cũng đã chứng minh hiệu quả cho bệnh thần kinh ngoại biên gây ra bởi bệnh tiểu đường. Các tác dụng phụ có thể bao gồm buồn nôn, buồn ngủ, chóng mặt, giảm sự ngon miệng và táo bón.

Điện kích thích thần kinh (TENS). Trong liệu pháp này, các điện cực được đặt dính trên da và một dòng điện nhẹ qua các điện cực ở các tần số khác nhau. TENS đã được thực hiện thường xuyên, nhưng một số người báo cáo điều trị này cải thiện các triệu chứng của họ.

Hy vọng những kinh nghiệm bác sĩ chia sẻ có thể giúp ích cho bạn đọc. Chúc bạn có một sức khỏe dồi dào.

Thứ Ba, 10 tháng 7, 2018

Đau thắt lưng dưới có triệu chứng gì?

Đau thắt lưng do nhiều nguyên nhân gây ra và có thể trở thành mạn tính hoặc dẫn đến nguy cơ mắc nhiều căn bệnh xương khớp khác nếu người bệnh chủ quan, không chữa trị dứt điểm.


Đau lưng dưới hay còn gọi là đau thắt lưng là triệu chứng phổ biến của căn bệnh về xương khớp. Tình trạng này xuất hiện khi cột sống vùng thắt lưng hoạt động với tần suất lớn và biên độ rộng hơn so với các đoạn cột sống khác. Bệnh này thường khu trú, không lan, rất hay tái phát khiến cột sống bị hạn chế vận động.

Nguyên nhân gây đau lưng dưới


• Do tính chất công việc:

Những người thường xuyên làm các công việc nặng như khuân vác, kéo, đẩy vật nặng hay các công việc văn phòng thường xuyên đứng, ngồi một chỗ, ít di chuyển cũng dễ bị đau lưng.

• Nằm, ngồi, đi, đứng sai tư thế, béo phì :

Những người thường xuyên nằm, ngồi sai tư thế hay tư thế đi, đứng bị gù vẹo, không thẳng, người bị béo phì khiến cột sống thắt lưng phải chịu 1 áp lực lớn, gây đau thắt lưng.

• Tập thể dục hoặc chơi thể thao quá mức:

Tập thể dục hay chơi thể thao nhiều quá mức, hoạt động vùng thắt lưng liên tục cũng dễ dẫn đến những cơ đau cho người bệnh.

• Do thoát vị đĩa đệm, thoái hóa cột sống:

Thoát vị đĩa đệm là nguyên nhân làm xuất hiện các cơn đau thắt lưng. Lúc này, đĩa đệm bị thoái hóa, chất nhầy bị thoát ra ngoài chèn ép các dây thần kinh cột sống gây ra những cơn đau hoặc đau thần kinh tọa.

• Phụ nữ mang thai:

Phụ nữ mang thai giai đoạn cuối củng thường phải gặp những cơn đau thắt lưng do cột sống phải chịu 1 lực lớn từ bào thai.

• Do mắc các bệnh mạn tính:

Viêm cột sống dính khớp, viêm khớp dạng thấp, lao cột sống, bệnh tiết niệu, sinh dục, bệnh tim mạch, bệnh dạ dày, ruột hay các khối u trong ổ bụng cũng là nguyên nhân gây ra các cơn đau thắt lưng.


Triệu chứng đau lưng dưới


Tùy thuộc vào các nguyên nhân khác nhau mà đau lưng dưới có thể gây ra một loạt các triệu chứng khác nhau. Người bị đau lưng dưới thường có các triệu chứng như:

• Xuất hiện các cơn đau dai dẳng, kéo dài.

• Ruộc và bàng quan có dấu hiệu rối loạn chức năng khá nghiêm trọng.

• Người bệnh bị sốt, sút cân không rõ nguyên nhân.

• Tình trạng tê hoặc yếu ngày càng trở nặng.

• Những cơn đau kéo đến khi ngồi hay vặn, uốn người.

• Nếu đau lưng kèm viêm khớp thì người bệnh có những cơn đau dữ dội mỗi khi cử động.

• Lưng hay bị co cứng và đau vào buổi sáng, các khớp xương khác cũng có dấu hiệu sưng đỏ hoặc đau.

• Cơn đau từ thắt lưng ngày càng lan xuống dưới 2 chân, ống chân dưới tê và đau lan rộng.

Đau lưng dưới gồm có đau cấp tính, tái phát và mạn tính. Hầu hết các triệu chứng của đau lưng dưới là đau cấp tính và sẽ giảm trong vài tuần. Tuy nhiên, bệnh có thể trở thành mãn tính nếu kéo dài không điều trị hợp lý.

Hy vọng những kiến thức được cung cấp qua bài viết có thể giúp bạn đọc nhiều hơn trong quá trình bảo vệ sức khỏe bản thân và gia đình. Chúc bạn vui khỏe.

Thứ Tư, 6 tháng 12, 2017

Nguyên nhân gây đau xương mu

Đau xương mu vùng kín rất thường gặp ở những chị em đang mang thai, nhất là ở những tháng cuối của thai kì. Lúc này, mẹ bầu thường có cảm giác đau âm ỉ từ vùng xương chậu tới đùi, bẹn, hai bên háng... Triệu chứng trở nên trầm trọng hơn khi di chuyển hoặc thay đổi tư thế.

Hiện tượng đau xương mu vùng kín ở bà bầu thường không nguy hiểm, nó chỉ gây ra sự khó chịu và bất tiện trong sinh hoạt hàng ngày. Tuy nhiên, nếu hiện tượng trở nên ngày một trầm trọng hoặc đi kèm những bất thường khác, mẹ bầu vẫn cần tiến hành thăm khám để được các bác sĩ tư vấn và có hướng xử trí phù hợp.

Viêm tuyến tiền liệt

Đây là căn bệnh xảy ra ở nam giới thường trong độ tuổi trung niên. Người bệnh thường có biểu hiện đau xương mu vùng kín, đau vùng bẹn và xương chậu, đi kèm hiện tượng tiểu buốt, tiểu rắt...

Bệnh nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời có thể gây ảnh hưởng tới đời sống tình dục và sức khỏe sinh sản của nam giới.

Nguyên nhân gây đau xương mu
Nguyên nhân gây đau xương mu


Viêm tinh hoàn, xoắn tinh hoàn

Các bệnh lý liên quan đến tinh hoàn thường khiến đấng mày râu vô cùng khó chịu, đau đớn. Ở mức độ nhẹ, cảm giác đau nhức chỉ xảy ra vùng tinh hoàn, tuy nhiên, nếu bệnh ở mức độ nặng, người bệnh sẽ thấy xuất hiện cả cảm giác đau xương mu vùng kín. Bệnh Gout có nguy hiểm không http://coxuongkhoppcc.com/benh-gout-co-nguy-hiem-khong.html

Viêm đường tiết niệu

Khi bị viêm đường tiết niệu, người bệnh thường có biểu hiện đau xương mu vùng kín, tiểu buốt, tiểu rát... Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu là do vệ sinh vùng kín không sạch sẽ hoặc lây nhiễm vi khuẩn qua đường tình dục.

Viêm bàng quang

Bàng quang là một trong những bộ phận rất quan trọng trong cơ quan bài tiết của cơ thể, khi bàng quang gặp vấn đề, có thể những bộ phận có liên quan cũng sẽ bị ảnh hưởng. Người bệnh sẽ có hiện tượng đau xương mu vùng kín, tiểu buốt, tiểu ra máu...

Đây chỉ là một vài nguyên nhân bệnh lý dẫn đến hiện tượng đau xương mu vùng kín. Do đây là dấu hiệu không quá điển hình và thường gặp, nên muốn biết chính xác nguyên nhân, người bệnh cần tới bệnh viện thăm khám, kiểm tra để có hướng xử trí kịp thời.

►Xem thêm: Tê chân khi mang thai

Thứ Ba, 5 tháng 12, 2017

Chứng tê chân tê tay khi mang thai

Hiện tượng bị tê chân khi mang thai thường xảy ra từ tháng thứ 4 hoặc thứ 5 của thai kỳ. Lúc này, cơ thể em bé đã dần hình thành đầy đủ các cơ quan, mẹ cũng vì thế mà tăng cân rõ rệt. Nếu như trong 3 tháng đầu, mẹ bầu chỉ tăng khoảng 1 kg thì từ tháng tiếp theo, mẹ có thể tăng 4 kg hoặc nhiều hơn. Càng về các tháng cuối, em bé lớn càng nhanh và mẹ tăng cân càng nhiều.

Khi mẹ bầu tăng cân đột ngột như vậy, áp lực cân nặng sẽ đè lên các mạch máu và dây thần kinh, khiến cho máu khó lưu thông. Khi đó, mẹ bầu sẽ thấy tê đầu ngón tay, tê ngón chân. Cảm giác này xuất hiện nhiều vào đêm và sáng sớm, tuy nhiên khá nhẹ nhàng và cũng chấm dứt nhanh chóng.

Cân nặng tăng lên càng nhiều tình trạng bị tê tay khi mang thai càng diễn ra thường xuyên hơn. Nếu mẹ càng lười vận động, bệnh sẽ càng nặng. Tay chân mẹ bầu có thể thấy đau như kiến đốt, một số ít trường hợp thấy đau như kim châm, chân đứng không vững, tay không thể cầm nắm các vật.

Nguyên nhân

Theo phân tích ở trên, bị tê tay khi mang thai phần lớn do vấn đề cân nặng gây ra. Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần lưu ý một số nguyên nhân khác như sau:

Lười vận động: Người mang bầu cơ thể nặng nề khiến họ có tâm lý lười vận động. Tuy nhiên, việc làm này không hề tốt cho thai nhi, và nó càng làm các mạch máu bị đè nén, khó lưu thông khiến chân tay tê nhiều hơn.

Thiếu dinh dưỡng: Mẹ bầu trong suốt thời gian thai kỳ cần tăng ít nhất 12 kg, nếu tăng ít hơn số cân này, mẹ có thể bị thiếu dinh dưỡng. Khi đó, cơ thể thiếu máu nuôi khiến cho các vị trí ở xa tim như chân và tay không được nuôi dưỡng đầy đủ, gây ra chứng tê chân tay.

Chứng tê chân tê tay khi mang thai
Chứng tê chân tê tay khi mang thai


Do hội chứng ống cổ tay: Hội chứng ống cổ tay khiến mẹ bị tê tay khi mang thai do dây thần kinh giữa ống cổ tay bị chèn ép. Cảm giác tê cứng sẽ lan từ hai ngón giữa đến lòng bàn tay, tới cổ tay hoặc cả cánh tay.

Do đau thần kinh tọa: Đau thần kinh tọa gây ra bệnh bị tê chân khi mang thai, các cơn đau kéo dọc từ thắt lưng xuống dưới một trong hai chân (rất ít khi tê cả hai chân).

Các bệnh viêm khớp: Như viêm khớp dạng thấp, viêm khớp thoái hóa, viêm khớp nhiễm trùng cũng gây ra bệnh tê chân tay, đôi khi cứng khớp, sưng đau kèm theo đỏ.

Tuy nhiên, các thông tin này chỉ mang tính suy đoán, tham khảo. Muốn xác định chính xác nguyên nhân bị tê tay khi mang bầu, mẹ cần đến gặp bác sĩ để được giải đáp.

Cách chữa

Bị tê tay tê chân khi mang thai là hiện tượng rất bình thường mà hầu như mẹ bầu nào cũng gặp phải. Do đó, mẹ không cần quá lo lắng về các triệu chứng này. Chỉ cần một số lưu ý nho nhỏ, mẹ sẽ cải thiện được tình trạng có bầu bị tê tay một cách dễ dàng.

Ăn uống và vận động đầy đủ: Trong thời gian thai kỳ, mẹ bầu cần được bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng để thai nhi phát triển toàn diện. Khi cân nặng tăng lên, nếu không gặp vấn đề gì về sức khỏe, mẹ hoàn toàn có thể tham gia các môn thể dục nhẹ nhàng như bơi lội, đi bộ, yoga, ngồi thiền. Nó không chỉ giúp mẹ giảm bệnh bị tê tay khi mang bầu mà còn duy trì vóc dáng thon gọn vừa phải trong suốt 9 tháng thai kỳ.

Không ngồi lâu một tư thế: Ngồi lâu một tư thế sẽ khiến cho mạch máu và dây thần kinh bị đè nén. Với mẹ bầu, khi ngồi xem tivi nên gác tay lên một chiếc gối êm ở cạnh ghế. Khi nằm, nên đặt một chiếc gối êm mềm mại dưới chân và tay. Nếu đang ngủ mà thấy tê chân tê tay, mẹ có thể nhờ người xoa bóp chân tay hoặc đổi tư thế khác.

Ngâm chân trong nước nóng và xoa bóp thường xuyên: Mỗi buổi tối, mẹ bầu nên ngâm chân với nước nóng cho mạch máu dãn nở. Sau đó, nên xoa bóp chân tay trước khi ngủ để có được một giấc ngủ ngon hơn. 

Viêm bao gân vùng mỏm trâm quay là gì ?

Viêm bao gân vùng mỏm trâm quay cổ tay là một loại bệnh lý viêm bao gân cơ dạng dài và duỗi ngắn ngón tay cái do De Quervain, đây cũng chính là tên nhà phẫu thuật học người Thụy Sỹ phát hiện lần đầu vào năm 1895. Bệnh viêm bao gân vùng mỏm xương thường gặp ở đối tượng là phụ nữ độ tuổi 30 – 50 tuổi.

Trong các hoạt động hàng ngày, cơ dạng dài và cơ duỗi ngắn ngón cái trượt khá dễ dàng trong đường hầm và được bao bọc bởi các hoạt dịch gân được làm trơn. Khi bao hoạt dịch bị viêm sẽ dẫn tới các hoạt động của đường hầm bị hạn chế gọi là hội chứng De Quervain.

Viêm bao gân vùng mỏm trâm quay có những triệu chứng ban đầu khá đơn giản, tuy vậy nếu không được kịp thời điều trị bệnh sẽ có những triệu chứng nguy hiểm hơn, ảnh hưởng tới cuộc sống cũng như sinh hoạt của người bệnh.

Bệnh nhân có hiện tượng đau vùng mỏm trâm quay, khi vận động ngón tay cái liên tục và đau nhất khi về đêm.

Viêm bao gân vùng mỏm trâm quay có thể lan ra ngón cái sau đó đau lên vùng cẳng tay.
Sưng nề vùng mỏm trâm quay, chỗ sưng có thể đỏ, nóng và ấn vào có cảm giác đau.
Gân dầy lên, khó khăn khi vận động và cầm nắm có liên quan tới ngón cái, có tiếng kêu cót két.

Viêm bao gân vùng mỏm trâm quay là gì ?
Viêm bao gân vùng mỏm trâm quay là gì ?


Bệnh viêm bao gân vùng mỏm trâm quay tuy chỉ có những biểu hiện vô cùng đơn giản nhưng nếu không điều trị kịp thời sẽ có những biến chứng rất nguy hiểm.

Đau nhức dai dẳng: Bệnh viêm bao gân vùng mỏm trâm quay gây nên những cơn đau dai đẳng và âm ỉ, bệnh nặng quá có thể đau nhức nhối. Người bệnh sẽ cảm thấy vô cùng khó chịu, đau nhức…

Tay khó vận động: Tay cứng lại do khớp khó vận động, người bệnh sẽ khó khăn trong việc cầm nắm ngón tay, người bệnh sẽ khó vận động khi sử dụng bàn tay của chính mình. Chữa bệnh Gout ở đâu http://coxuongkhoppcc.com/chua-benh-gout-o-dau-uy-tin-chat-luong.html

Ảnh hưởng tới cuộc sống, công việc: Người bệnh bị viêm bao gân vùng mỏm xương sẽ có những ảnh hưởng nghiêm trọng trong công việc cũng như sinh hoạt. Các công việc như cầm nắm, đóng cúc áo… rất khó khăn và phải nhờ sự hỗ trợ của người khác. Công việc sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng vì không thể sử dụng tay thuần thục như cũ…

Bệnh viêm bao gân vùng mỏm trâm quay với rất nhiều biến chứng và nếu không được điều trị kịp thời gây ảnh hưởng tới sức khỏe cũng như những như các sinh hoạt của người bệnh. 

Chủ Nhật, 3 tháng 12, 2017

Chẩn đoán u xương tế bào khổng lồ như thế nào ?

CT scan hoặc MRI sẽ cho phép chúng ta đánh giá chi tiết về tổn thương vỏ xương và những phần mềm kế cận. Phương pháp xạ hình xương ít có vai trò trong việc chẩn đoán và đánh giá u xương tế bào khổng lồ, độ tập trung của phóng xạ thường tăng hoặc có thể bình thường.

X-quang thường quy: tổn thương u xương tế bào sẽ có những dấu hiệu như: hình ảnh tiêu xương khu trú, lệch tâm theo trục của xương, có ranh giới rõ nằm ở vùng đầu xương và còn có thể lan tới vùng hành xương. 

Tổn thương u xương qua x-quang thường quy có thể phá hủy vùng vỏ xương kế cận nhưng thường không làm tổn thương đến bề mặt khớp xương. Vùng trung tâm khối u là vị trí tăng thấu quang nhất và độ đậm cản quang cũng tăng dần ra vùng ngoại vi. X-quang u xương tế bào khổng lồ cũng thường không có biểu hiện calci hóa trong lòng khối u và không có phản ứng màng xương.

Sinh thiết xương và mô bệnh học: sau khi áp dụng phương pháp này sẽ thấy có tổn thương dày đặc tế bào, với những tế bào khổng lồ nhiều nhân xen kẽ với những tế bào đệm đơn nhân. Các tế bào đệm là những tế bào đơn nhân đồng nhất có hình tròn hoặc hình ô van, có nhân lớn. 

Nhân của các tế bào đệm cũng giống với nhân của các tế bào khổng lồ nên đây là đặc điểm để phân biệt giữa u xương tế bào khổng lồ với những loại tổn thương khác có chứa tế bào khổng lồ. Ngoài ra, những tế bào khổng lồ cũng thường có số lượng nhân rất lớn, có thể lên tới hàng trăm nhân. Giữa những tế bào đều có rất ít chất gian bào, ngoại trừ một ít sợi collagen.

Chẩn đoán u xương tế bào khổng lồ như thế nào ?
Chẩn đoán u xương tế bào khổng lồ như thế nào ?


Chẩn đoán giai đoạn và chẩn đoán phân biệt

Chẩn đoán giai đoạn u xương tế bào khổng lồ có thể chia thành 3 giai đoạn khác nhau. Ở giai đoạn I, khối u khá nhỏ, ít hoặc không tiến triển, ranh giới khá rõ ràng, vỏ xương còn nguyên vẹn và thường không có triệu chứng, mô học lành tính u xương. 

Giai đoạn II, bệnh nhân có thể gặp phải những triệu chứng ban đầu, kể cả gãy xương bệnh lý. Những tổn thương xương trên x-quang đã lan rộng, vỏ xương cũng mỏng và giãn rộng nhưng chưa bị thủng. Trên xạ hình xương có tình trạng tăng hoạt tính, mô học lành tính.

Ở giai đoạn III, bệnh nhân u xương tế bào khổng lồ có triệu chứng khá rõ ràng, khối u phát triển nhanh. Tổn thương phá hủy vỏ xương, khối u lan rộng vào các mô mềm xung quanh trên phim chụp x-quang hoặc CT-scan. Xạ hình xương cũng thấy có tăng hoạt tính phóng xạ vượt quá so với giới hạn tổn thương xương, tình trạng tăng sinh mạch máu cũng hiển thị khá rõ ràng khi chụp mạch và mô học lành tính.

Chẩn đoán phân biệt có thể chia u xương tế bào khổng lồ thành các dạng như: sarcoma sụn, u nguyên bào sụn, kén xương phình mạch, sarcom xương, u nâu và u tế bào tạo collagen.